TỌA ĐÀM: “DOANH NGHIỆP VỚI VIỆC XÂY DỰNG CÁC THIẾT CHẾ PHỤC VỤ NGƯỜI LAO ĐỘNG”: Thiết chế hoàn chỉnh sẽ tăng năng lực cạnh tranh, giảm tình trạng nhảy việc

Hiện các KCN, KCX vẫn thiếu nhà trẻ, nhà mẫu giáo cho con công nhân, thiếu trạm y tế, nhà văn hóa, sân thể thao,… Liệu các doanh nghiệp có thể chung tay với tổ chức Công đoàn cung cấp dịch vụ, cùng xây dựng các khu thiết chế cho người lao động? Việc hợp tác nên thế nào? Lãnh đạo của Tổng LĐLĐ VN, Bộ Xây dựng, ngân hàng, doanh nghiệp… đang cùng thảo luận để tìm ra cơ chế hợp tác tốt nhất.

8h30′, phát biểu khai mạc buổi tọa đàm “Doanh nghiệp với việc xây dựng các thiết chế phục vụ người lao động” đang diễn ra tại Hà Nội, ông Nguyễn Đình Chúc- Phó Tổng biên tập báo Lao Động– cho hay, theo khảo sát của Tổng Liên đoàn LĐVN vào tháng 7.2016, cả nước có 344 khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), với khoảng 2,7 triệu công nhân lao động, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2015 và chiếm 1/5 tổng số công nhân lao động trên cả nước. Tiền lương, thu nhập, nhà ở cho công nhân lao động trực tiếp sản xuất vẫn là vấn đề cần quan tâm. Thu nhập của CNLĐ trực tiếp sản xuất chưa tương xứng với sức lao động của họ bỏ ra. Hàng vạn CNLĐ vẫn phải tự thuê chỗ ở, sống và sinh hoạt trong những khu nhà trọ tạm bợ, thiếu thốn và không đảm bảo các điều kiện sống tối thiểu, không an toàn. Tình trạng công nhân, lao động phải làm việc với các máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, môi trường không đảm bảo điều kiện vệ sinh, bữa ăn ca đạm bạc… vẫn còn khá phổ biến.

Các KCN, KCX vẫn thiếu nhà trẻ, nhà mẫu giáo cho con công nhân, thiếu trạm y tế, nhà văn hóa, nhà thi đấu, sân thể thao, nơi vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa tinh thần, luyện tập thể dục thể thao… để tái tạo sức lao động cho công nhân. Đời sống tinh thần của công nhân còn nghèo nàn, trình độ học vấn còn thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế, chưa tạo được tác phong công nghiệp… khiến ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất lao động tại doanh nghiệp.

Doanh nghiệp cần được ưu đãi, có cơ chế khuyến khích
Trước thực trạng đó, rất nhiều doanh nghiệp đã chủ động có những hình thức chăm lo cho CNLĐ của mình rất thiết thực. Ngoài việc đảm bảo lương, thưởng cho công nhân, nhiều doanh nghiệp còn tổ chức nhà trẻ để công nhân nữ yên tâm làm việc, tổ chức nhà thi đấu, rèn luyện sức khỏe cho công nhân, tổ chức các chương trình sinh hoạt văn hóa, thể thao, cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho công nhân… tuy nhiên, các hoạt động này đều chỉ gói gọn trong CNLĐ của chính doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Đình Chúc – Phó Tổng biên tập báo Lao Động. Ảnh: Hải Nguyễn

Thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 9.1.2016 của Ban Bí thư và Quyết định số 1934/QĐ-TTg ngày 10.10.2016 về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân lao động KCN-KCX, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã trình Chính phủ “Đề án đầu tư xây dựng các thiết chế của Công đoàn tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất”. Theo đề án này, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam sẽ chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng  các khu thiết chế phục vụ công nhân lao động và đoàn viên công đoàn tại các KCX-KCX gồm: Nhà ở, nhà trẻ, trường học, siêu thị, nhà thuốc, trung tâm tư vấn pháp luật; các công trình văn hóa, thể thao… với mức giá ưu đãi, giảm giá tối đa cho người lao động, đặc biệt là người lao động trong khu công nghiệp. Việc làm này đặc biệt có ý nghĩa, chăm sóc trực tiếp, thiết thực và hiệu quả đời sống vật chất, tinh thần của công nhân.
Vậy, doanh nghiệp có thể chung tay với tổ chức Công đoàn, cung cấp dịch vụ, cùng xây dựng các Khu thiết chế cho người lao động trong KCN nói chung, và cho công nhân của chính doanh nghiệp nói riêng? Việc hợp tác (nếu có) sẽ diễn ra theo mô hình nào để vừa có lợi cho doanh nghiệp, vừa có lợi cho công nhân và tổ chức công đoàn? Nếu doanh nghiệp tham gia xây dựng thiết chế cho công nhân, họ cần nhận được những ưu đãi, những cơ chế khuyến khích như thế nào?…

Quanh cảnh buổi tọa đàm. Ảnh: Hải Nguyễn

Cuộc tọa đàm này là nơi trao đổi, thảo luận giữa các doanh nghiệp với tổ chức công đoàn, với các cơ quan quản lý nhà nước, nhằm tìm ra những hướng đi mới, những sự kết hợp hiệu quả giữa doanh nghiệp và công đoàn, cùng hướng tới việc xây dựng các thiết chế phục vụ nhu cầu thiết yếu của người lao động trong doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Đình Chúc cũng cho hay nội dung của tọa đàm tập trung vào 2 vấn đề chính là vai trò của doanh nghiệp trong việc xây dựng và vận hành các thiết chế phục vụ người lao động và những hướng đi mới, những sự kết hợp hiệu quả giữa doanh nghiệp và công đoàn để hướng tới sự phát triển bền vững.

Đây cũng là một trong những hoạt động của Câu lạc bộ “Doanh nghiệp vì Người lao động” do Báo Lao Động tổ chức, với sự chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, sự hỗ trợ tích cực của Bộ Xây dựng.

Thiết chế hoàn chỉnh sẽ tăng năng lực cạnh tranh, giảm tình trạng nhảy việc

Ông Bùi Văn Cường – Ủy viên TƯ Đảng, Chủ tịch Tổng LĐLĐVN– nêu bật lên những nỗ lực của CĐ trong việc xây dựng các thiết chế cho CNVCLĐ.

Thay mặt Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐVN, ông Bùi Văn Cường hoan nghênh sáng kiến CLB DN vì người LĐ và Báo LĐ trong việc tổ chức hoạt động có ý nghĩa để có thêm ý kiến, đóng góp về việc tổ chức các hoạt động để chăm lo cho CNVCLĐ. “Có thể nói, trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, Nghị quyết trong chăm lo cho CNLĐ. Có những địa phương, đơn vị thực hiện khá tốt, nhưng có nhiều nơi chưa tốt. Do đó việc trao đổi thảo luận để tiếp tục nâng cao nhận thức, quan tâm chăm lo đến CNLĐ để có những hoạt động cụ thể trong việc chăm lo là hết sức cần thiết”- ông Bùi Văn Cường nhận định.
Theo ông Bùi Văn Cường, trong quá trình nghiên cứu theo dõi, thấy các chủ trương của Đảng, Nhà nước đã được 1 số DN chỉ đạo, triển khai thực hiện rất có kết quả, nhất là những DN đạt Giải thưởng DN vì NLĐ năm 2016. Có nơi xây dựng nhà ở, nhà trẻ mẫu giáo, nhà văn hóa và các thiết chế VHTT để phục vụ đời sống VHTT của NLĐ; có nơi quan tâm đến bữa ăn ca; nâng cao tình độ cho CNLĐ; quan tâm đến chế độ về tiền lương, thưởng; xây dựng văn hóa ứng xử, an toàn vệ sinh lao động… Sự quan tâm trên rất đa dạng, rất phong phú. Những DN quan tâm chăm lo đến NLĐ các DN đó coi NLĐ là vốn quý, là tài sản vô giáo của DN để có những hoạt động không chỉ chăm lo về vật chất mà còn tinh thần, tạo sự gắn kết và xây dựng tập thể đoàn kết, trên cơ sở đó NLĐ hết lòng vì DN, thúc đẩy DN phát triển, xây dựng quan hệ hài hòa trong DN tiến bộ. Theo ông Cường, những hoạt động trên rất đáng biểu dương.

Ông Bùi Văn Cường – Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ảnh: Hải Nguyễn

Vẫn theo ông Cường, thời gian vừa qua, Tổng LĐLĐVN đã có khảo sát nhu cầu về nhà ở, nơi gửi trẻ an toàn, nơi mua sắm nhu yếu phẩm cũng như nhu cầu về thể thao, giải trí… Theo đó, toàn quốc có 344 KCN, KCX, trong đó có 200 khu đang hoạt động, 1 số khu dang trong quá trình xây dựng. Điều đó đặt ra vấn đề nhu cầu nhà ở, nơi gửi trẻ, tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao, chăm sóc y tế hỗ trợ pháp luật là hết sức bức xúc, cần thiết. Trong 344 KCN trên có 2,7 triệu LĐ, thì có 1,2 triệu có nhu cầu về nhà ở, nhưng mới chỉ từ 5-10 % nhu cầu trên được đáp ứng (do một số DN, địa phương xây nhà).
Đề án sau khi hoàn thành đã báo cáo Thủ tướng và trước đó đã xin ý kiến 6 bộ ngành liên quan đều được ủng hộ.

Ông Cường cho biết, thiết chế phục vụ NLĐ gồm: Nhà ở, nhà trẻ, mẫu giáo, siêu thị CĐ, nơi tổ chức các hoạt động VHTT cũng như tư vấn pháp luật; nơi khám, bán thuốc, phục vụ chăm lo sức khỏe cho CNLĐ; có trụ sở của CĐ KCN KCX tổ chức các hoạt động ngoài giờ của CNLĐ. “Qua khảo sát, qua nắm bắt nhu cầu, trao đổi với cán bộ CĐ các cấp thì nhận được sự đồng tình ủng hộ cao vì thiết chế hoàn chỉnh như vậy sẽ phục vụ rất thiết thực, góp phần tăng năng lực cạnh tranh của các địa phương, giảm tình trạng nhảy việc trong CN cũng như góp phần giải quyết các vấn đề bức xúc của địa phương”- ông Cường nói.

Xây dựng các thiết chế cho NLĐ sẽ được hưởng những ưu đãi chính sách về đất đai, thuế; tiết giảm tối đa các chi phí xây dựng nên nhà ở cho CN sẽ rất rẻ; có thể có căn hộ 30m2, 2 phòng ngủ, phòng khách, bếp, công trình phụ với giá khoảng 100 triệu đồng. Hơn nữa, nơi ở CN sẽ có khuôn viên, cây xanh, sân chơi bãi tập để phục vụ đời sống CNLĐ.
“Việc xây dựng các thiết chế phục vụ NLĐ sẽ được tiến hành khách quan, minh bạch, công khai với sự chỉ đạo của Tổng LĐ, LĐLĐ Các TP, CĐ các KCN, KCX đảm bảo chất lượng,mỹ quan, tiến độ”- ông Cường khẳng định.

Ông Cường cũng chia sẻ, khi xin ý kiến các Bộ ngành về đề án này thì có ý kiến đề nghị xem liệu xây có người ở không? Về băn khoăn này, ông Cường khẳng định, việc xây dựng sẽ theo đúng nhu cầu thực tế của CN, được thực hiện qua khảo sát: Phát tờ giới thiệu, đăng ký tới CNLĐ (là mua hay thuê) để xác định chính xác nhu cầu thực để xây dựng, tránh lãng phí;  kèm với đó là xây dựng chính sách để hỗ trợ đó đến đúng với NLĐ.

Ngoài mong muốn có những ý kiến đóng góp về xây dựng các thiết chế, ông Cường bày tỏ mong muốn các đại biểu trao đổi đề xuất những nội dung cụ thể như cần có hoạt động, hỗ trợ cụ thể nào để hỗ trợ cho CNLĐ từ phía CĐ, người sử dụng LĐ, nhà nước, lực lượng xã hội khác để chăm lo cho CNLĐ. Bởi đây là lực lượng hết sức quan trọng làm ra của cải xã hội. Các đại biểu đề xuất thêm với Đảng, Nhà nước cơ chế trong việc chăm lo đời sống vật chất, tinh  thần cho CNLĐ; Tổ chức CĐ phải làm gì để chăm lo thực chất, hiệu quả hơn cho CNLĐ, ông Cường gợi ý.
Theo Chủ tịch Tổng LĐLĐVN, việc xây dựng các thiết chế cho NLĐ, cũng nằm trong việc đổi mới hoạt động, tổ chức của tổ chức CĐ trong tình hình mới.

Phải gắn với quy hoạch nhà ở, đô thị và có cơ chế bổ sung

Ông Vũ Đại Thắng– Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam– bày tỏ vui mừng khi được tham dự tọa đàm ngày hôm nay. Ông Thắng cho biết, ngày 7.12 mới đây cũng tham dự Hội nghị toàn quốc về xây dựng nhà ở cho công nhân với sự tham gia và chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, đại diện UBND các tỉnh, thành phố, đại diện các chủ đầu tư, DN, các KCN, KCX… chia sẻ nhiều ý kiến. Đây là sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ trong việc xây dựng nhà ở cho NLĐ tại các KCN và KCX, đồng thời giao nhiệm vụ quan trọng cho TLĐLĐVN trong việc xây dựng thiết chế phục vụ cho NLĐ.

Ông Vũ Đại Thắng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam.

Ông Thắng cho biết, Hà Nam nằm ở phía Nam Hà Nội, nhiều năm qua đã gặt hái được nhiều kết quả đáng khích lệ trong giai đoạn từ 2011-2015 và trong năm 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại. Trong đó, phát triển công nghiệp (CN) đang chiếm tỉ trọng lớn nhất trong vị thế của tỉnh, gần xấp xỉ 60% tỉ trọng kinh tế là CN. Kết quả này có được là nhờ sự hỗ trợ của các ban ngành TW và DN trong và ngoài nước đã chọn Hà Nam là địa bàn đầu tư triển khai các dự án của mình.
Cụ thể, trong lĩnh vực CN, Hà Nam có sự đóng góp của DN quy mô lớn và DN nước ngoài. Trong giai đoạn 2011 -2015 tốc độ tăng trưởng thu hút đầu tư rất nhanh, lọt top 15 của cả nước trong thu hút FDI. Riêng năm 2016, Hà Nam đã bứt phá lên vị trí thứ 8 trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài khoảng 600 triệu USD Mỹ.

Ông Thắng cũng cho biết, các KCN tại Hà Nam đang thu hút 1 lượng công nhân rất lớn. Tổng số khoảng 60.000 công hân đang làm việc trên 5 KCN đang hoạt động đầy đủ, ngoài ra còn 3 khu CN đang xây dựng. Về cơ bản đời sống người lao động trong khu CN đc chăm lo tg đối tổn định. Với sức ép, tốc độ gia tăng, số lượng NLĐ đang tăng lên. Vì vậy Hà Nam đang gặp một số vấn đề liên quan đến việc chăm sóc đời sống NLĐ, đặc biệt là xây dựng nhà ở và thực hiện các quyền lợi về mặt tinh thần cho NLĐ.
Ông Thắng đánh giá cụ thể trong nội bộ tỉnh Hà Nam, liên quan đến quy hoạch các khu CN từ trước tới nay luôn gắn đến quy hoạch sử dụng đất và sử dụng các tiện ích như điện nước, vấn đề xử lý nước thải, điện, ga hay các tiện ích khác… chưa đạt được nếu so với sự phát triển đô thị, cũng như quỹ nhà ở cho CN. Khi KCN hình thành, số lượng DN tăng lên, số lượng công nhân tăng, cần nhu cầu lớn về nhà ở và các thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội, sân thể thao, nhà trẻ cho con em lao động…

Ông Thắng nhận định, sức ép này đối với Hà Nam hiện nay chưa lớn như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh nhưng cũng đang hiện hữu. Hiện tỉnh đã chủ động xử lý vấn đề này bằng cách sử dụng nguồn lực của tỉnh trên cơ sở hướng dẫn của Chính phủ, từng bước tháo gỡ khó khăn cho CN.

Về giao thông, ông Thắng cho biết, sức ép hiện nay cũng đang rất lớn, tại các KCN có hiện tượng tắc nghẽn giao thông. Trong tổng số 60.000 CN, chỉ có 30% là lao động ngoại tỉnh, ở các địa phương ngoài cac KCN, như vậy tổng số lượng CN nếu phải ở lại các KCN lên đến 60%. Tỉnh Hà Nam đưa ra giải pháp là xây dựng các tuyến xe bus từ đưa đón NLĐ từ các khu vực nông thôn hàng sáng đến các KCN và đưa họ trở về nhà và cuối ngày. Đây là giải pháp trong ngắn hạn, tuy nhiên về dài hạn chắc chắn vẫn cần xây dựng nhà ở, KTX cho NLĐ cũng như xây dựng các thiết chế văn hóa, xã hội khác.
Ông Thắng cho biết, trên cơ sở các nghị định của CP về xây dựng nhà ở xã hội và nhà ở CN, dù có cơ chế riêng xây dựng các khu này nhưng kết quả thực hiện tại tỉnh vẫn chưa cao. Bước đầu mới chỉ động viên một số hộ xây dựng nhà ở cho CN ở, giới hạn về mức giá thuê, tiện ích, chi phí điện nước… Còn việc xây dựng nhà ở tập trung mới có 1 khu KTX tập trung mà DN trực tiếp bỏ kinh phí ra đầu tư. UBND tỉnh đang tiếp tục suy nghĩ, xây dựng cơ chế đặc thù thu hút DN xây dựng hạ tầng Khu CN…
Hiện nay UBND tỉnh Hà Nam đang phối hợp với TLĐLĐVN tạo điều kiện xem xét xây dựng khu nhà ở mẫu trong một khu CN để trước mắt xử lý một số vấn đề về nhà ở cho CN khu CN trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
Ngoài quy định ưu tiên của Chính phủ về miễn giảm thuế TNDN, tạo quỹ đất sạch, tỉnh Hà Nam hiện cũng có cơ chế đặc thù như bàn giao đất sach, miễn toàn bộ tiền thuê đất…
Theo chỉ đạo của Chủ tịch TLĐLĐVN, ông Thắng kiến nghị đề xuất: Tọa đàm hôm nay có phạm vi đầy đủ hơn, phổ cập phổ biến rông rãi hơn vì “thiết chế” không chỉ bao hàm nhà ở mà cả các thiết chế văn hóa, xã hội, thể thao, nhà trẻ, trường học, mẫu giáo cho con em CN. Có lẽ khi đề cập đến CN và đời sống NLĐ nên sử dụng từ thiết chế như tọa đàm đề cập sẽ đầy đủ hơn.
Đồng tình với việc xây dựng thiết chế cho CN là vai trò các cấp, các ngành đặc biệt là các LĐLĐ và CĐ các địa phương – những đơn vị  gắn bó nhất với đời sống của NLĐ. Từ đó xây dựng kiến nghị dề xuất để kiện toàn cơ chế chính sách.
Ông Thắng đề xuất, việc xây dựng thiết chế và nhà ở CN cần sự tham gia của các cơ quan, DN gồm DN đầu tư hạ tầng khu CN và DN đầu tư thứ cấp trong khu CN (sử dụng trực tiếp NLĐ). Với DN đầu tư hạ tầng khu CN, ngay từ khi phát triển các quy hoạch khu CN phải gắn liền với quy hoạch nhà ở CN, xây dựng các thiết chế… thay vì cố gắng tạo ra quỹ đất sạch xây dựng đường xá, đi lại để thu hút  DN, sau đó mới để lại cho chính quyền địa phương chăm lo chỗ ở cho NLĐ. Ngay từ đầu phải gắn với quy hoạch nhà ở, đô thị.
Với DN đầu tư thứ cấp trong khu CN (sử dụng trực tiếp NLĐ) cũng là đối tượng cần đc quan tâm, động viên để cùng Nhà đầu tư hạ tầng KCN xây khu nhà ở CN. Đơn cử như mô hình mà Viglacera phối hợp với Samsung xây dựng nhà ở cho CN ở Yên Phong (Bắc Ninh) rất hiệu quả. Nhà nước cũng cần có cơ chế bổ sung. Bởi hiện nay nhà ở CN, đầu tư thứ cấp chưa được hạch toán lỗ lãi, chủ DN khi xây nhà ở CN nên được tính vào tổng vốn đầu tư để, hạch toán vào giá thành, khấu hao, tạo động lực cho DN có kinh phí tiếp tục đầu tư phục vu cho CN. Từ đó, CN sẽ gắn bó với DN hơn, phục vụ sự phát triển KTXH của các địa phương liên tục và lâu dài.

Công nhân rất mong mỏi được hưởng các tiện ích

Theo bà Trần Thu Phương – Phó Chủ tịch Công đoàn các Khu công nghiệp và Chế xuất Hà Nội, trên địa bàn TP Hà Nội hiện nay đang có 8 KCN đang đi vào hoạt động với 144.428 lao động (trong đó lao động Việt Nam là 143.244 người và lao động nước ngoài là 1.184 người). Hiện tại, Công đoàn các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội đang quản lý trực tiếp 274 CĐCS với 126.034 lao động, trong đó đoàn viên là 122.627 người.

Bà Thu Phương – Phó Chủ tịch Công đoàn các KCN Hà Nội. Ảnh: Hải Nguyễn

Trong tổng số hơn 140 nghìn lao động trong KCN và CX Hà Nội, có gần 70% là lao động ngoại tỉnh phải thuê nhà ở. Trên thực tế thu nhập bình quân của người lao động trong các KCN Hà Nội chỉ đạt từ 4-4,5 triệu đồng/người/tháng nên khả năng chi trả các nhu cầu thiết yếu như trên là không thể đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Nguồn cung cấp nhà ở như hiện nay thì không đủ 140.000 CNLĐ trong các KCN Hà Nội.
Theo khảo sát thực tế, tiền thuê nhà ở của NLĐ ngoại tỉnh tại các khu nhà trọ dao động từ 500.000đ-1.200.000đ/tháng, trang thiết bị đi kèm gần như không có gì, điều kiện sống khá thô sơ, tạm bợ. Đối với những gia đình đã có con nhỏ, việc gửi trẻ cũng phải chi phí từ 1.000.000 – 1.200.000đ/cháu/tháng khiến nhiều CNLĐ phải gửi con về quê hoặc đưa bố mẹ ra trông. Ở KCN Thăng Long UBND TP Hà Nội đã cho xây dựng nhà trẻ Kim Chung 2 nhằm ưu tiên cho CNLĐ gửi con với mức chi phí ưu đãi 500.000đ/cháu/tháng. Tuy nhiên, công suất của nhà trẻ chỉ đạt trên 300 cháu nên không thể đáp ứng nhu cầu gửi con ngày càng cao của NLĐ. Ưu đãi là 500 nghìn đồng/tháng cả tiền ăn, học.
Công đoàn các KCN&CX Hà Nội đã tiến hành một số cuộc khảo sát về nhu cầu của người lao động về nhà ở, nhà trẻ mẫu giáo, điểm sinh hoạt văn hóa … tại các khu công nghiệp. Kết quả đa số người lao động trong 8 khu công nghiệp đều trả lời rất mong muốn được hưởng những tiện ích như trên. Nổi bật là tại KCN Bắc Thăng Long có gần 70.000 lao động thì số lao động có nhu cầu nhà ở chiếm gần 45.000 người (Chiếm 65% tổng số lao động), số lao động có nhu cầu nhà trẻ là 34.000 người (chiếm gần 50% tổng số lao động), số lao động cần nhu cầu mua sắm tại các siêu thị với hàng hóa đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lí là trên 27.000 người (Chiếm 40%). Đối với các KCN khác tỷ lệ lao động ngoại tỉnh có nhu cầu nhà ở cũng rất cao, thông thường chiếm từ 65-70% tổng số lao động, nhu cầu nhà trẻ chiếm 50% tổng số lao động…
Trước thông tin Tổng LĐ sẽ xây dựng các thiết chế phục vụ cho NLĐ, bà Phương cho biết, bà vô cùng phấn khởi vì xây dựng sẽ có sự tổng thể (nhà ở, nhà trẻ, nhà mẫu giáo…) là mong mỏi quá lớn của CN trong hàng chục năm nay…
Theo bà Phương, xây dựng các thiết chế phục vụ cho NLĐ là một chiến lược lâu dài, triển khai thì rất có lợi. Bà Phương cho biết, CĐ KCN-KCX phát triển 123.000 đoàn viên CĐ trong 15 năm qua. Tuy nhiên, rất nhiều CĐCS, nhất là DN tư nhân không muốn vào CĐ vì chưa thấy lợi ích gì cho NLĐ. CĐ các KCN thường chỉ phát triển CĐ ở những DN có đông LĐ (hơn 30 LĐ), còn ít LĐ thì DN ít tham gia. Có những DN tham gia CĐ, nhưng cũng có DN tương đối khó khăn vì CN nói tôi vào CĐ thì được hưởng lợi gì? Nếu có thiết chế này thì không gặp câu hỏi đó vì đã có câu trả lời: CN sẽ được mua hàng thẻ ưu đãi, được mua nhà, gửi con ở nhà trẻ tư thục… Điều này rất thuận lợi cho việc phát triển đoàn viên. Với hàng chục, hàng trăm DN mà có thiết chế văn hóa, thì chắc chắn DN dù nhỏ cũng sẽ tham gia CĐ”- bà Phương cho biết.

Những vướng mắc cần tháo gỡ
Ông Trịnh Trường Sơn- Phó Cục trưởng cục Quản lý nhà và thị trường BĐS– nhận định việc xây dựng các cơ chế, chính sách để phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở; nâng cao chất lượng các hoạt động, đáp ứng nhu cầu hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí của công nhân lao động là rất cần thiết.

Ông Trịnh Trường Sơn- Phó Cục trưởng cục Quản lý nhà và thị trường BĐS. Ảnh: Hải Nguyễn

Theo lãnh đạo Cục Quản lý nhà và thị trường BĐS, hiện nay, các cơ chế, chính sách về đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp tại khu vực đô thị và công nhân lao động tại các KCN đã được ban hành tương đối đầy đủ và đồng bộ. Theo quy định của Luật Nhà ở 2014, công nhân lao động là một trong 10 nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội đã quy định cụ thể về nguyên tắc xác định quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội đối với các khu công nghiệp; loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội; cơ chế hỗ trợ, ưu đãi chủ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân KCN. Theo đó, chủ đầu tư dự án là doanh nghiệp, hợp tác xã được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất  trong phạm vi dự án; được dành 20% tổng diện tích đất ở để xây dựng công trình kinh doanh thương mại nhằm góp phần bù đắp chi phí đầu tư và lợi nhuận của dự án; chủ đầu tư được miễn, giảm thuế thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội hoặc tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước chỉ định gồm Vietinbank, Agribank, Vietcombank…, được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hỗ trợ kinh phí đầu tư hạ tầng kỹ thuật trong phạm vi dự án… Các DN phải tính toán vì sức ép cạnh tranh và thực tế diễn biến trên thị trường.
Theo báo cáo của 52/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tính đến tháng 11/2016 cho thấy số lượng công nhân có nhu cầu về chỗ ở là khoảng 1,065 triệu người, dự kiến đến năm 2020 có khoảng 1,684 triệu người có nhu cầu về chỗ ở (tương đương 320.000 căn hộ, với khoảng 12,8 triệu m2 nhà ở). Đến nay, trên địa bàn cả nước đã và đang triển khai xây dựng 167 dự án nhà ở xã hội cho công nhân KCN, quy mô khoảng 126.800 căn, tương đương 5,072 triệu m2. Đã hoàn thành 97 dự án, quy mô 38.800 căn hộ (trong đó, Ban Quản lý KCN và đơn vị kinh doanh hạ tầng KCN thực hiện 20 dự án; Doanh nghiệp SX, KD trong KCN thực hiện 60 dự án; Doanh nghiệp kinh doanh BĐS thực hiện 17 dự án). Hiện nay đang tiếp tục triển khai khoảng 70 dự án, với quy mô 88.000 căn hộ.
So với nhu cầu thực tế, con số đã triển khai còn rất nhỏ. Tại các KCN mới chỉ có khoảng 20% tổng số công nhân lao động có chỗ ở ổn định, số còn lại vẫn đang phải thuê chỗ ở tạm. Đa số công nhân ngoại tỉnh làm việc tại các KCN trên cả nước đều phải thuê nhà trọ với diện tích chật hẹp, điều kiện vệ sinh, môi trường cũng như hạ tầng kỹ thuật chưa đảm bảo, thiếu các công trình hạ tầng xã hội thiết yếu (nhà trẻ, trường học, trạm y tế, khu vui chơi, giải trí, khu luyện tập thể thao, thư viện…).
Trong giai đoạn 2011-2015, Bộ Xây dựng đã thực hiện khảo sát, tổng hợp  về tình hình đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, y tế, giáo dục phục vụ công nhân tại các KCN tại một số địa phương trọng điểm có nhiều KCN.
Kết quả tổng hợp tính hình đầu tư đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng xã hội, thiết chế văn hóa, thể thao cho công nhân các KCN giai đoạn 2011-2015 cho thấy kết quả đạt được còn thấp (công trình văn hóa đạt tỷ lệ 6%; Khu luyện tập thể thao 6%; cơ sở khám chữa bệnh 3%; trường mẫu giáo phục vụ con em công nhân 4,1%; trường tiểu học phục vụ con em công nhân 3,1%; trường trung học cơ sở phục vụ con em công nhân 4,1%…).

Theo số liệu điều tra khảo sát mới nhất (năm 2016) của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy tại các KCN, KCX thì số lượng về nhà trẻ, nhà mẫu giáo, trạm y tế, nhà văn hóa, nhà thi đấu thể thao, nơi vui chơi giải trí cho đoàn viên, công nhân lao động chỉ đạt mức 5-10% nhu cầu tối thiểu. Tốc độ phát triển còn chậm.

Ông Sơn đưa ra một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở xã hội và các công trình phúc lợi văn hóa, y tế, giáo dục, thể thao phục vụ công nhân lao động tại các KCN. Cụ thể, việc cân đối nguồn vốn hỗ trợ từ nguồn ngân sách dành cho phát triển nhà ở xã hội gặp nhiều khó khăn; cơ chế huy động vốn để đầu tư phát triển nhà ở xã hội cho công nhân KCN chưa đa dạng; thiếu các định chế tài chính tham gia hỗ trợ cho công nhân lao động KCN vay để mua, thuê mua, thuê nhà ở xã hội hoặc cho các doanh nghiệp vay để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội (như: Quỹ đầu tư bất động sản, Quỹ phát triển nhà ở, Ngân hàng tiết kiệm nhà ở…). Do đó, việc huy động vốn, nhất là vốn trung hạn và dài hạn cho phát triển nhà ở xã hội dành cho công nhân lao động còn gặp nhiều khó khăn.
Một số địa phương chưa quan tâm đúng mức đến phát triển nhà ở xã hội dành cho công nhân KCN; chưa bố trí đủ quỹ đất cho phát triển nhà ở xã hội cho công nhân; chưa quan tâm hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào các dự án nhà ở xã hội từ nguồn ngân sách địa phương; thủ tục hành chính trong đầu tư xây dựng tuy đã được cải thiện, rút ngắn nhưng vẫn còn rườm rà, thời gian chuẩn bị đầu tư, bồi thường giải phóng mặt bằng, giao đất, thời gian thẩm định, phê duyệt quy hoạch, dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân lao động KCN vẫn còn kéo dài.
Cơ cấu sản phẩm nhà ở xã hội còn có sự mất cân đối. Việc phát triển phân khúc nhà ở cho thuê tuy đã được ưu đãi hơn các phân khúc khác nhưng kết quả đạt được còn thấp, nguyên nhân là do việc đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân lao động KCN thuê cần nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, trong khi nguồn vốn hiện nay chủ yếu là vay thương mại ngắn hạn, tiền thuê nhà không đủ bù đắp chi phí đầu tư xây dựng và chi phí tài chính. Vì vậy, việc phát triển mô hình nhà ở xã hội cho công nhân thuê theo dự án do các doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia đầu tư còn hạn chế.
Mức thu nhập của công nhân lao động tại các KCN tuy đã được cải thiện, nâng cao từng bước nhưng còn thấp, rất khó khăn trong việc thanh toán chi phí nhà ở, nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng.
Một số dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân khu công nghiệp có mô hình thiết kế, giá cả cũng như cơ chế quản lý sử dụng chưa hợp lý, chưa khuyến khích, thu hút được công nhân lao động tại các KCN.
Các thiết chế phục vụ nhu cầu của công nhân (bao gồm các công trình giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao…) mới chỉ được thực hiện đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách tại một số KCN. Việc khuyến khích đầu tư từ nguồn vốn xã hội hóa còn rất hạn chế.
Một số cơ sở sản xuất, doanh nghiệp đáp ứng về năng lực và kinh nghiệm có nhu cầu tham gia thành lập cơ sở giáo dục – đào tạo nhằm phục vụ nhu cầu cho công nhân KCN, nhưng quá trình triển khai gặp nhiều khó khăn về thủ tục đất đai, địa điểm xây dựng cũng như cơ chế hỗ trợ về tài chính, tín dụng, thuế… Mặt khác, do chưa có sự khuyến khích, ưu đãi thoả đáng của Nhà nước, cho nên giá cung ứng dịch vụ của các cơ sở, đơn vị ngoài công lập tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, y tế, thể dục, thể thao và các dịch vụ công cộng khác tại các KCN đều ở mức cao so với các cơ sở công lập. Với mức thu nhập còn hạn hẹp của đại bộ phận công nhân, người lao động tại các KCN sẽ không có khả năng chi trả các khoản chi đối với lĩnh vực giáo dục, y tế, thể dục, thể thao và các dịch vụ công cộng khác theo giá thị trường, nếu không có sự hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước và các tổ chức xã hội.
Từ thực tế, lãnh đạo Cục Quản lý nhà và thị trường BĐS đưa ra một số giải pháp như tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế, bổ sung các cơ chế, chính sách để thúc đẩy việc phát triển nhà ở xã hội cho công nhân KCN; báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, bổ sung danh mục các Chương trình nhà ở xã hội vào danh mục các chương trình được ưu tiên sử dụng vốn ngân sách đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 tại Nghị quyết số 1023/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; ưu tiên bố trí vốn ngân sách hỗ trợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội và các Ngân hàng thương mại để cho vay và cấp bù lãi suất để cho vay đối với các chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội và các  đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội (trong đó có công nhân lao động KCN) theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ.
Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính, thuế liên quan đến nhà ở và bất động sản theo hướng sửa đổi, bổ sung quy định về thuế tài sản nhà, đất nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách để hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân KCN; khuyến khích hình thành một số định chế tài chính, như: Quỹ phát triển nhà ở, Quỹ đầu tư bất động sản,… để tạo thêm kênh huy động vốn trung hạn và dài hạn cho phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân KCN; nghiên cứu chính sách về nghĩa vụ của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sử dụng nhiều lao động tại các KCN có trách nhiệm hỗ trợ nhà ở cho công nhân, người lao động làm việc tại các doanh nghiệp đó; nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách về tín dụng liên quan đến nhà ở xã hội, nguồn vốn hỗ trợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội, mô hình Ngân hàng tiết kiệm nhà ở, hợp tác xã tín dụng…
Cục quản lý nhà và thị trường BĐS đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thực hiện có hiệu quả Đề án thí điểm xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao tại các KCN.
Cục cũng đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát các quy hoạch đô thị, KCN để điều chỉnh, bổ sung, bảo đảm bố trí đủ quỹ đất cho phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân KCN. Khi quy hoạch các khu đô thị mới, KCN mới, nhất thiết phải có quy hoạch nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân theo quy định của pháp luật; bố trí nguồn lực hợp lý để đầu tư các cơ sở hạ tầng thiết yếu như: trường học, nhà trẻ, cơ sở khám chữa bệnh, sinh hoạt cộng đồng, văn hoá, thể dục, thể thao, đặc biệt là tại các khu vực có số lượng lớn công nhân lao động; có các cơ chế, giải pháp cụ thể phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương để hỗ trợ, khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp tích cực tham gia phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp và người dân tích cực tham gia phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân lao động tại các KCN trên phạm vi địa bàn.

An cư mới lạc nghiệp
Ông Phạm Anh Vũ- Phó Chủ tịch Công đoàn VietinBank
– cho rằng người lao động tại hệ thống doanh nghiệp là một trong những lực lượng nòng cốt của nền kinh tế. Lực lượng này tạo ra của cải vật chất và đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển của đất nước. Những năm qua, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động đã được các cấp chính quyền và doanh nghiệp cả nước quan tâm. Tuy nhiên, đời sống của người lao động trên toàn quốc vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Cụ thể, đại diện Vietinbank cho biết, khó khăn về nhà ở hiện nay là người lao động tại các khu công nghiệp phần lớn là người ngoại tỉnh, đa số phải thuê nhà trọ trong các khu dân cư. Cuộc sống của họ đôi khi thiếu những trang, thiết bị sinh hoạt đáp ứng nhu cầu tối thiểu. Sự thiếu thốn đó vẫn đang là gánh nặng lớn đối với người lao động trong điều kiện đồng lương còn hạn chế. Ông cha ta thường nói: “An cư mới lạc nghiệp”, nếu giải quyết tốt vấn đề nhà ở sẽ giúp người lao động ổn định sức khỏe, tái tạo sức lao động, góp phần tạo ra nguồn lực có chất lượng cho xã hội.

Ông Phạm Anh Vũ – Phó Chủ tịch Công đoàn VietinBank. Ảnh: Hải Nguyễn

Kế đến là khó khăn về nhà gửi trẻ, phần lớn lao động nữ trong các khu công nghiệp đang ở độ tuổi 25 – 40 và đang có con ở độ tuổi mầm non. Vì vậy nhu cầu gửi trẻ của người lao động tại các khu công nghiệp là rất cao. Tuy nhiên, rất nhiều khu công nghiệp không có nhà trẻ. Câu hỏi “Gửi con ở đâu để có thể yên tâm đi làm?” đang là vấn đề bức xúc đối với người lao động, nhất là gần đây đã xảy ra nhiều vụ bạo hành trẻ ở một số cơ sở trông giữ trẻ tư nhân. Việc xây dựng nhà trẻ, trường mẫu giáo cho con em người lao động đang là nhu cầu thật sự bức thiết.
Bên cạnh đó là khó khăn về đời sống tinh thần, đặc thù môi trường công nghiệp khép kín khiến cho hàng nghìn công nhân, đặc biệt là thanh niên công nhân tại các khu công nghiệp ít có cơ hội tiếp cận, tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí. Do đó hoạt động nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người lao động chưa có nhiều.
Với 3 khó khăn cơ bản trên đã cho thấy điều kiện cơ sở vật chất và đời sống văn hóa dành cho công nhân chưa tương xứng với thành quả họ đóng góp cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Vì vậy các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và đặc biệt là các doanh nghiệp cần phối hợp xây dựng hệ thống thiết chế vì lợi ích của người lao động trên toàn quốc, đặc biệt là tại các khu công nghiệp.
Ông Vũ cho biết, từ lâu VietinBank đã cung cấp nguồn lực cho các doanh nghiệp xây dựng các thiết chế dành cho người lao động. Cụ thể, VietinBank hợp tác với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát hành thẻ với chức năng vừa là thẻ Đoàn viên vừa tích hợp các chức năng tài chính để chủ thẻ được hưởng ưu đãi của VietinBank. Từ hoạt động thiết thực này, VietinBank hỗ trợ doanh nghiệp trong việc quản lý đoàn viên và trả lương cho người lao động, rất tiện lợi trong quá trình sử dụng.
Hai là, VietinBank đang triển khai 12 chương trình ưu đãi lãi suất dành cho các doanh nghiệp với mức lãi suất thấp hơn đến 4% so với mức lãi suất cho vay thông thường, doanh số giải ngân lên đến trên 200 nghìn tỉ đồng.
Ba là, VietinBank luôn cải tiến quy trình chính sách tín dụng với các sản phẩm tín dụng đặc thù cho các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp xây dựng nhà ở đặc biệt là nhà ở xã hội và các công trình ích lợi công cộng…
Bốn là, không chỉ dừng ở các sản phẩm tín dụng riêng biệt, VietinBank còn thực hiện cung cấp trọn gói các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp, bao gồm các dịch vụ: Tài khoản, huy động vốn, tư vấn đầu tư, thanh toán… VietinBank hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc hiện thực hóa các đề án, thiết chế thành các công trình thực tế dành cho người lao động.
Bên cạnh 4 nhóm giải pháp cụ thể và thiết thực trên, VietinBank còn dành hơn 6.500 tỉ đồng để thực hiện các hoạt động từ thiện, an sinh xã hội trên toàn quốc, trong đó có một phần kinh phí khá lớn dành hỗ trợ trực tiếp cho người lao động, con em người lao động thông qua việc xây dựng nhà tình thương, xây dựng trường học, trao tặng học bổng cho các em học sinh…
Thời gian tới, VietinBank cam kết tiếp tục chung tay cùng Đảng, Chính phủ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp thực hiện hỗ trợ tài chính, xây dựng các thiết chế cho người lao động. Đặc biệt, VietinBank cam kết sẽ dành nguồn vốn ưu đãi để đáp ứng nhu cầu tài chính của các doanh nghiệp trong việc xây dựng nhà ở, trường học, trạm y tế, công trình công cộng… phục vụ lợi ích của người lao động tại các Khu Công nghiệp. Với người lao động, VietinBank tiếp tục có chính sách ưu đãi trong việc vay vốn mua nhà, sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tiện ích và tích hợp các ưu đãi nhằm tiết kiệm thời gian và nguồn tài chính.

Người lao động kỳ vọng vào việc xây dựng thiết chế văn hóa

Chị Lê Ngọc Huế- công nhân của Công ty TNHH Canon Việt Nam- nhà máy Thăng Long, KCN Bắc Thăng Long, đại diện cho hơn 140 nghìn CNLĐ trong các KCN & CX Hà Nội, cho biết chị đến từ Thanh Hóa và bắt đầu trở thành CN của Công ty Canon từ năm 2011. Hiện tại chị chưa lập gia đình và đang trọ tại khu nhà ở CN tại Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội.

Chị Lê Ngọc Huế – công nhân của Công ty TNHH Canon Việt Nam- nhà máy Thăng Long, KCN Bắc Thăng Long, Hà Nội. Ảnh: Hải Nguyễn

Chị Huế cho rằng so với các bạn CNLĐ của các KCN khác, thậm chí các Công ty khác trong KCN Bắc Thăng Long, mình thật sự may mắn khi được là CNLĐ của Công ty Canon vì được Công ty bố trí một khu nhà ở riêng với đầy đủ tiện nghi: Ti vi, máy giặt, bình nóng lạnh, bếp nấu ăn, thư viện, phòng tập đa năng (gym, TDTM, chiếu phim định kỳ, lễ hội trăng rằm, giao lưu VH).
Ngoài ra, chị cũng có cơ hội được tiếp xúc với một số các sự kiện do LĐLĐ hay CĐ các KCN & CX HN tổ chức văn hóa như: Các liên hoan văn nghệ, hội chợ,…
Tuy nhiên, chị thấy có một thực tế hiện tại là nhiều CNLĐ mặc dù muốn ở lại HN làm việc nhưng điều kiện sống tối thiểu như: chợ “sạch”, nhà trọ cho hộ gia đình, nhà trẻ cho CNLĐ làm ca/kíp, các hoạt động văn hóa thể thao, tinh thần,… rất hạn chế.
Ngoài giờ làm việc, các công nhân rất muốn có một chỗ để thư giãn thì phải di chuyển rất xa, có lẽ chỉ có thể vào HN và như thế rất bất tiện, chưa kể tốn kém về chi phí.
Do đó, khi nghe tin về dự án xây dựng các khu thiết chế cho NLĐ, chị cũng phải tự tìm hiểu thì mới được biết thiết chế văn hóa không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các cơ sở vật chất liên quan phục vụ cộng đồng văn hóa mà còn có cả một bộ máy để vận hành các cơ sở vật chất này và rất vui mừng vì điều này.
Chị Huế bày tỏ kỳ vọng vào việc xây dựng thiết chế văn hóa tại KCN Bắc Thăng Long để đường xá, khu vực thoát nước thải được cải thiện nhiều hơn, xây dựng các nhà trẻ để con em CNLĐ chúng tôi có cơ hội gần gũi bố mẹ, tiếp xúc với cuộc sống văn minh hơn, xây dựng các nhà thể thao, cung thi đấu để chúng tôi được tự rèn luyện sức khỏe, cũng như có cơ hội tiếp xúc, giao tiếp với nhiều CNLĐ khác, mở các câu lạc bộ để nâng cao kỹ năng sống hay tổ chức nhiều sự kiện giao lưu văn hóa để chúng tôi có cơ hội thể hiện năng khiếu của mình qua đó cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn.
Chị Huế cho biết với tiếng nói của NLĐ, chị hy vọng nguyện vọng của công nhân sẽ được đáp ứng góp phần nâng cao chất lượng của CNLĐ, qua đó đẩy mạnh hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

Chỉ đoàn viên Công đoàn mới được mua hàng ưu đãi giảm giá 10%
Ông Nguyễn Quang Lâm– Chủ tịch Công đoàn Hapro
– cho biết, Hapro có gần 100 siêu thị và cửa hàng tiện ích trong đó có 02 siêu thị trực tiếp, phục vụ CNLĐ tại khu CN, KCX. 2 siêu thị này hiện kinh doanh được 7 năm và đã đạt mức hòa vốn. Để có được kết quả này, ông Lâm cho biết, đơn vị đã nghiên cứu và tìm cách đáp ứng đúng nhu cầu và tâm lý tiêu dùng của CNLĐ tại KCN. Trong đó, hàng hóa phải rõ nguồn gốc, có chất lượng tốt, an toàn và rõ ràng về thời hạn sử dụng. Hàng nhập khẩu phải có tem giới thiệu bằng tiếng Việt. Giá cả hợp lý, niêm yết rõ ràng và ổn định không chạy theo sốt giá bất thường của thị trường. Hàng hóa phải đầy đủ, chủ yếu là các mặt hàng thiết yếu, thông dụng, hạn chế các mặt hàng cao cấp, hàng hiệu có giá cao vượt mức thu nhập của CNLĐ tại khu công nghiệp. Địa điểm bán hàng phải văn minh, tiện lợi như: Giờ mở cửa từ 7h30 đến 21h30, có hóa đơn, thái độ phục vụ cởi mở, chân tình.

Ông Nguyễn Quang Lâm – Chủ tịch Công đoàn Hapro.

Theo đó, đại diện cho Hapro, ông Lâm cũng kiến nghị thiết chế Công đoàn. Cụ thể, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nên kiến nghị với Nhà nước, Chính phủ chỉ đạo các cấp, các ngành giành quỹ đất, nhà tại Khu nhà ở cho CNLĐ, khu CN, KCX giao miễn phí cho tổ chức công đoàn để công đoàn quản lý và tổ chức hệ thống Siêu thị Công đoàn, cửa hàng tiện ích công đoàn (được quy hoạch ngay từ khi thiết kế). Công đoàn đầu tư giá kệ và thu tiền quảng cáo trên giá kệ phục vụ tái đầu tư. Giao cho doanh nghiệp có ngành nghề và chuyên nghiệp trên lĩnh vực kinh doanh siêu thị và bán lẻ trực tiếp kinh doanh bởi chỉ có doanh nghiệp loại này mới đủ sức cạnh tranh mua được của các nhà cung cấp nguồn hàng thiết yếu giá rẻ nhất. Lưu ý là công đoàn không trực tiếp tổ chức kinh doanh siêu thị, cửa hàng tiện ích vì sẽ không đủ sức cạnh tranh, giá bán sẽ cao hơn thị trường và không đảm bảo tính độc lập để giám sát (nói thêm về nguồn đầu vào của hàng hóa bán lẻ).
Ngoài ra, đề xuất công đoàn ký hợp đồng giao mặt bằng cho doanh nghiệp và yêu cầu hàng hóa thiết yếu bán tại siêu thị này giảm giá từ 5% đến 10% so với các siêu thị, cửa hàng tiện ích thông thường khác (bởi nếu miễn giảm chi phí thuê mặt bằng và không đầu tư giá kệ thì sẽ giảm được 10%). Chính yếu tố này sẽ tạo nên sự hấp dẫn có sức cạnh tranh mạnh của hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện công đoàn.
Bên cạnh đó, cán bộ CĐCS tại khu CN, KCX sẽ có trách nhiệm so sánh, giám sát giá bán tại siêu thị CĐ và phản ảnh qua hệ thống ngành dọc để xử lý các vi phạm cam kết (nếu có). Đối tượng hưởng lợi mua hàng giảm 10% tại hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện ích công đoàn là đoàn viên CĐ, được kiểm soát qua mã thẻ đoàn viên CĐ. (Chỉ có đoàn viên CĐ đã có thẻ đoàn viên mới được mua hàng hóa giá thấp hơn 10% tại hệ thống này).
Ông Lâm nhấn mạnh, hoạt động thương mại, đặc biệt là thương mại bán lẻ hàng ngày hàng giờ trực tiếp tác động đến cuộc sống của mọi người dân, trong đó có đoàn viên công đoàn. Nếu Tổ chức chúng ta kiến nghị thành công với Đảng, Nhà nước xây dựng thiết chế giao quỹ đất, nhà miễn phí cho CĐ để tổ chức hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện ích công đoàn tại khu CN, KCX thì đó là thiết chế hết sức nhân văn, phục vụ lợi ích thiết thực công nhân lao động, đoàn viên công đoàn và góp phần nâng cao vị thế bền vững của tổ chức công đoàn VN.

Doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư nếu công nhân của mình được hưởng ưu đãi

Phát biểu đóng góp ý kiến tại buổi tọa đàm, ông Nguyễn Văn Khoái– Chủ tịch LĐLĐ Hà Nam– (LĐLĐ tỉnh Hà Nam sẽ xây dựng Khu thiết chế) đã nêu lên rất nhiều ý kiến hết sức cụ thể. Theo ông Khoái, tại Hà Nam, tất cả những điều kiện để triển khai xây dựng thiết chế cho NLĐ đã xong: Cụ thể đã có đất đã giải phóng mặt bằng; toàn bộ hạ tầng kỹ thuật đến chân hàng rào; hiện tại chỉ còn làm công tác chuẩn bị đầu tư dự án.
Đối với nguồn đầu tư để xây dựng, theo ông Khoái, bản thân ông đã làm việc với một số DN ở nước ngoài, họ sẵn sàng bỏ vốn cùng với chủ đầu tư để đầu tư xây dựng với điều kiện CN của họ sẽ được giảm giá khi mua nhà, mua hàng.
Từ thực tế trên, ông Khoái đề xuất, trước khi triển khai cần họp với tất cả các DN trong KCN nào đó có đầu tư và nêu ra ý nghĩa chương trình và có một giải pháp cụ thể về giảm giá cho CN trực tiếp của DN, thì sẽ nhận được sự ủng hộ của DN.
Bên cạnh đó, theo ông Khoái, nguồn lực đầu tư còn đến từ các DN kinh doanh ở khu này, như DN kinh doanh về siêu thị và nhà thuốc. Các nhà thuốc, siêu thị bán những mặt hàng thiết yếu cho CNLĐ trực tiếp hàng ngày cho CNLĐ có thể sẵn sàng đầu tư và kinh doanh.
Đóng góp ý kiến về quy mô đầu tư các hạng mục đầu tư trong khu thiết chế, ông Khao nhất trí với việc cần thiết phải xây dựng nhà ở, nhà trẻ cho CN; hệ thống siêu thị nhà thuốc, nơi gửi xe của CNLĐ; nhà sinh hoạt cộng đồng. Tuy nhiên, việc xây dựng nhà cho ban quản lý CĐ các KCN thì cần tùy địa phương, vì hiện nay, có nơi có, có nơi chưa.
Vẫn theo ông Khoái, trong các thiết kế căn hộ cho CN, ngoài những thiết kế cần thiết, thì không thể thiếu được sân phơi (cộng đồng hoặc từng gia đình) và bếp ăn. Bên cạnh đó, tùy theo từng khu đất có thể bố trí xen kẽ giữa nhà ở với các vườn hoa, cây cảnh. Tuy theo từng địa phương có địa phương diện tích lớn. Nếu có diện tích 10 ha thì xây dựng các khu nhà 3 ha, còn để bố trí nơi vui chơi giản trí cho CNLĐ, chứ không phải là những khu nhà san sát nhau.
Đối với vị trí xây dựng, theo ông Khoái, hiện nay có 2 ý kiến là làm trong KCN hay ngoài KCN. “Qua tham khảo ý kiến của CN, tôi thấy nên xây dựng ở trong KCN, bởi CN mong muốn hơn vì đỡ phải đi lại xa, gặp các vấn đề về giao thông”- ông Khoái nói.
Bàn thêm khâu tổ chức thực hiện, ông Khoái đề nghị nên giao cho các nhà đầu tư hoặc LĐLĐ các tỉnh làm chủ đầu tư thì sẽ rất chủ động, rất nhanh trong quá trình đầu tư, tiến độ nhanh cũng như quản lý sử dụng sau này.
Theo ông Khoái, việc xây dựng nhà ở cho CN là cái mới và các địa phương rất ủng hộ , vì vậy đề nghị làm thí điểm trước 1 vài địa phương.

Thiết chế cần đảm bảo sự đồng bộ
Ông Trần Quốc Trung – Vụ phó Vụ Quản lý các Khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư- trình bày tham luận về vai trò của DN trong việc xây dựng thiết chế cho người lao Động. Theo ông Trung, qua gần 25 năm phát triển KCN, KCX, khu kinh tế đã có những đóng góp tích cực tới sự phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương và cả nước như tạo việc làm cho gần 3 triệu người, đóng góp 45% giá trị sản xuất của cả nước, đóng góp 51% giá trị xuất khẩu.

Ông Trần Quốc Trung – Vụ phó Vụ Quản lý các Khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ảnh: Hải Nguyễn

Tuy nhiên, đời sống vật chất tinh thần của công nhân tại các KCN, khu chế xuất, khu kinh tế còn khó khăn. Nhà ở cho người lao động hiện chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thuê mua của người lao động ngoại tỉnh. Các dịch vụ y tế giáo dục chỉ đáp ứng 30% nhu cầu của người lao động.
Ông Trung đánh giá đang có nhu cầu cấp bách về việc xây các công trình nhà ở, thể chế văn hoá phục vụ NLD đặc biệt là cơ sở lưu trú, khám chữa bệnh, trường mầm non…
Việc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đứng ra khởi xướng xây dựng thiết chế này là vấn đề cấp thiết và phù hợp.
Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ Kế hoạch Đầu tư đã có báo cáo đánh giá cụ thể về cơ chế, chính sách đầu tư, xây dựng công trình phúc lợi, bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng đời sống văn hoá cho công nhân trong KCN.
Liên quan tới đề án xây dựng thiết chế của công đoàn tại các KCN, Khu chế xuất do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam vận động, Bộ KHĐT đã có ý kiến đóng góp về nội dung đề án. Cụ thể, ông Trung cho rằng có thể lựa chọn 2-3 địa phương để thực hiện thí điểm trước khi triển khai rộng rãi. Phương án huy động vốn chủ yếu dựa vào nguồn vốn của các tổ chức công đoàn, vốn ngân sách trung ương, địa phương và vốn vay mà chưa huy động được sự tham gia của DN.
Trong bối cảnh nguồn vốn ngân sách còn hạn chế, phạm vi được phép sử dụng nguồn vốn của tổ chức công đoàn chỉ được sử dụng trong 1 số mục đích nhất định. Do đó, để thực hiện đề án cần đa dạng hoá nguồn vốn, tăng cường xã hội hoá, thu hút đầu tư tư nhân vào đầu tư xây dựng nhà ở, thiết chế văn hoá, cơ sở giáo dục mầm non cho công nhân trong KCN, khu chế xuất.

Đại diện Bộ KHĐT cũng đề xuất cần rà soát quy hoạch phát triển KCN, quy hoạch nhà ở, thiết chế văn hoá nhằm đảm bảo sự đồng bộ và phối hợp từ giai đoạn quy hoạch đến triển khai đầu tư xây dựng, khuyến khích phát triển các mô hình KCN đô thị dịch vụ..

Chủ trương đúng, phù hợp với tình hình thực tế
Theo bà Nguyễn Thị Thúy Hà – Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Vĩnh Phúc, xây dựng các thiết chế công đoàn cho CN trong các KCN là chủ trương đúng phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Như đại diện Bộ KHĐT đã trình bày, CNLĐ là người làm ra sản phẩm là nguồn thu chủ yếu của các tỉnh. Các thiết chế văn hóa phục vụ cho đời sống của NLĐ còn ít và không tương xứng với những gì NLĐ đã bỏ ra. Tỉnh ủy và UBND tỉnh rất quan tâm trong việc xây dựng các thiết chế cho NLĐ. Cấp 3,8ha xây dựng thiết chế
Bà Hà đề xuất xin 800m2 đất để xây dựng nhà văn hóa công nhân. Đồng thời, đề nghị TLĐLĐVN sớm cho chủ trương đầu tư xây dựng để trả lời với lãnh đạo tỉnh ủy và UBND tỉnh xây dựng các thiết chế văn hóa công đoàn phục vụ CN trong thời gian tới.
Hai là đối với việc xây dựng các thiết chế phục vụ công nhân, đề nghị bộ ngành TƯ tham mưu với Chính phủ cho CNLĐ vay mua nhà ở như gói 30.000 tỉ. Hiện đã có một DN xây dựng được một số tòa nhà, CNLĐ được vay ưu đãi và được ở nhanh chóng.
Liên quan đến nhà ở, bà Hà đề nghị thiết kế nhà ở cho công nhân ở các tỉnh rộng hơn và đảm bảo điều kiện hơn so với các TP lớn. Nếu như ở HN diện tích chỉ từ 30-40m2/căn hộ thì ở các tỉnh có thể thiết kế rộng hơn từ 40-70m2 /căn hộ. Với thiết chế thứ 2 là nhà ở cho con em công nhân. Thực tế cho thấy, có nhiều LĐ nữ mất việc làm sau khi sinh con, sau khi sinh bố mẹ lên trông con giúp, khu nhà ở rất chật chội, chưa kể khó khăn trong việc thuê thêm căn hộ liền kề. Hiện nay, CN phải làm việc theo ca, chính vì vậy bà Hà đề nghị TLĐLĐVN phối hợp với các bộ ban ngành liên quan, đặc biệt là Bộ GDĐT cho phép CNLĐ được gửi con ở nhà trẻ công lập. Ngoài ra, nhà trẻ này cho phép giáo viên trông con theo ca làm việc của công nhân bố mẹ. Theo tình hình khu CN hiện nay, các nhà trẻ tư thục vẫn thu hút con em công nhân vì cơ chế hoạt động chia làm 3 ca, nếu CN đi làm ca ngày thì gửi con ca ngày, là ca đêm thì gửi ca đêm từ 10h đêm đến 6h sáng hôm sau.
Bên cạnh đó, bà Hà đề xuất xây dựng phòng khám đa khoa trong KCN. Theo đó, phòng khám nằm trong block các tòa nhà ở tầng 1 hoặc tầng 2. Sở Y tế có ý kiến đề nghị xây 1 tòa nhà riêng làm phòng khám đa khoa khu CN là nơi đăng kí khám chữa bệnh cho CN khu CN đó. DN và các thành phần KT tư nhân tham gia thực hiện thiết chế này.
Bà Thủy cũng đại diện đề nghị TLĐLĐVN báo cáo với Bộ Y tế báo cáo Chính phủ lịch làm việc của phòng khám phù hợp với CN, làm việc từ thứ 7 đến thứ 5, để thứ 7, Chủ nhật thì CN được nghỉ để đi khám chữa bệnh như trong giờ hành chính, không phải mất phí ngoài giờ hành chính.
Với các siêu thị mini, trong thiết công đoàn nên có siêu thị mini ở tầng 1 khu nhà ở, tuy nhiên bà Hà đề nghị các siêu thị mini hoạt động theo cơ chế thị trường. Nhắc lại vấn đề xây dựng nhà VH công nhân cho CN lao động trong các KCN là vấn đề bức thiết, bà Hà cho rằng chỉ cần 1 nhà VH đa năng để làm nơi hội họp, sinh hoạt cộng đồng, đám cưới tập thể hoặc làm sân cầu lông, bóng chuyền hơi, tập thể hình… đầu tư từ  20 – 25 tỉ đồng.
Với các nội dung khác, bà Hà mong muốn TLĐLĐVN phối hợp với Bộ KHĐT có chủ trương đầu tư xây dựng thiết chế công đoàn cho các tỉnh, có chủ trương đầu tư sớm để làm việc thiết kế gửi về các tỉnh sớm, báo cáo sở KHĐT các tỉnh để cấp đất, xúc tiến đầu tư…

DN sẽ có trách nhiệm hơn với NLĐ
Đại diện Công ty TNHH Cedo có trụ sở ở Bắc Ninh cho biết công ty này bắt đầu hoạt động từ năm 2006. Đại diện này đánh giá đề án của TLĐ là bước giúp công ty hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình. Hiện nay, công ty mới hoàn thành trách nhiệm ở mức độ chế độ lương thưởng, đời sống vật chất tổ chức các hoạt động phòng trào nhằm gắn kết NLĐ còn vấn đề chỗ ở, nhà ở cho NLĐ, trường mầm non là thiết yếu nhưng công ty chưa dám nghĩ đến vì phụ thuộc vào điều kiện của công ty.

Đại diện Công ty TNHH Cedo

Đại diện này cho rằng nếu được triển khai, đề án này sẽ tốt cho DN và NLĐ. Ở khía cạnh DN, với thiết chế này, DN sẽ có trách nhiệm hơn nữa, đối với NLĐ bởi NLĐ là tài sản của DN và chính phủ đã quan tâm như thế thì DN càng phải ý thức hơn về trách nhiệm của mình.

Đại diện công ty này cũng cam kết sẽ hỗ trợ và phối hợp về kinh phí cũng như thủ tục trong quá trình triển khai đề án

Cần lắng nghe ý kiến của DN
Ông Đinh Viết Thanh- Trưởng Ban Pháp chế TCty May 10
– nhấn mạnh về cơ chế để DN thuận lợi hơn trong xây dựng thiết chế cho CN. Lấy thực tế từ Cty May 10: Hiện Cty có 15 y bác sỹ và 29 cô giáo mầm non đều hưởng lương DN; tất cả diện tích trường mầm non vừa rồi mới được miễn thuế đất (phải vì thành lập pháp nhân mới được miễn); còn diện tích xây dựng nơi khám chữa bệnh thì chưa được miễn thuế). Hơn nữa, tất cả các công trình như nhà đa năng dành cho CN, siêu thị, phòng cưới) nằm trong diện tích Cty đang phải chịu thuê để kinh doanh, mặc dù những công trình này mang tính phúc lợi rõ nét. Ông Thanh đề nghị cần có chính sách hợp lý hơn để khuyến khích DN xây dựng những công trình mang tính phúc lợi cho CN trong DN mình.
Ông Thanh cũng nhấn mạnh về góc độ môi trường, bởi hiện nay NLĐ muốn sống trong môi trường tốt, mà muốn như vậy thì phải sống xa KCN. Theo ông, nên có vùng đệm giữa KCN (có thể là công trình công cộng nào đó) và nơi ở của CN để đảm bảo môi trường sống cho CN.
Ông cũng đề nghị, trong quá trình xây dựng nhà máy, đối với chính sách về thuế đất thì cần cân nhắc tỷ lệ nào tính vào đất sản xuất kinh doanh, diện tích nào phục vụ môi trường để giảm chi phí tiền thuê đất.

Ông cũng đề nghị, việc xây dựng thiết chế cho NLĐ cần phải bàn thật kỹ, lắng nghe ý kiến của DN. “Xây dựng thiết chế dành cho NLĐ là rất mừng, nhưng tôi cũng lo nếu thiết chế không đảm bảo lợi ích 3 bên: Nhà nước, người sử dụng LĐ, NLĐ thì không chừng thiết chế đặt ra sẽ mang gánh nặng cho DN”- ông Thanh bày tỏ.

Ông Lê Văn Lâm- GĐ Kinh doanh kiêm Chủ tịch công đoàn Tập đoàn Đức Hạnh BMG– cho biết hiện công ty có trên dưới 2.000 cán bộ. Hiện tại đã xây dựng được khu nhà ở từ 6-7 tầng cho NL với diện tích từ 40m2 đến 80m2. Đồng thời xây dựng cơ chế dành cho quản lý, thu hút nguồn lực LĐ cao cấp như các chuyên gia, xây dựng các khu biệt thự liền kề, cung cấp xe đưa đón…

Bên cạnh đó, Cty cũng đã xây dựng khu nhà ăn, nhà ở, khu vực thể thao, có 2 sân bóng, khu bể bơi, khu nhà tập thể dục thể thao, cầu lông, bóng bàn, quy hoạch cả khu trồng trọt, chăn nuôi, cung cấp thực phẩm sạch, thường xuyên tổ chức tọa đàm lắng nghe tâm tư của người lao động, tổ chức các buổi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ thể thao…
Ông Lâm cho biết, khu nhà trẻ, nhà mẫu giáo đang được nghiên cứu và chuẩn bị xây dựng, nếu có cơ chế chính sách chúng tôi sẵn sàng làm ngay, sẵn sàng cùng các nhà đầu tư xây dựng…
Ông Lâm đề xuất cần nghiên cứu trước xem mô hình của DN có phù hợp không. Đơn cử như Cty hiện có có 2.000 cán bộ, nhưng nếu rải rác 12 chi nhánh trên cả nước không tập trung vào một nơi thì nên đầu tư xây dựng thế nào? Điều này cần có sự nghiên cứu cho phù hợp.
Ông Lâm cho biết, Chính phủ đã nhấn mạnh năm nay là năm DN, DN cần có sự cống hiến và an sinh xã hội tốt. Trước đây, khu CN Phổ Yên (Thái Nguyên) gần khu CN Samsung đã xảy ra tình trạng ồ ạt các khu nhà trọ, nhà nghỉ mọc lên với chi phí đắt đỏ, sau đó Samsung mới chuyển cơ chế đưa đón CN về các địa phương.
Khi xây dựng quy hoạch, ông Lâm cho rằng cần để ý đến vấn đề an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, trật tự an ninh, khu CN Samsung tuy rất phát triển nhưng vấn đề an ninh còn phức tạp. Ngoài ra, ông Lâm đề xuất xin bố trí thêm quỹ đất để mở rộng xây dựng các khu vui chơi giải trí và công trình văn hóa thể thao cho NLĐ để phục vụ NLĐ sau giờ àm việc NLĐ có nơi sinh hoạt lành mạnh. Ông Lâm nhấn mạnh, sẵn sàng kết hợp đầu tư với các nhà đầu tư và TLĐLĐVN để đầu tư xây dựng các công trình thiết chế cho NLĐ.
Thay mặt Đoàn chủ tọa buổi tọa đàm, kết luận buổi tọa đàm, ông Phan Văn Anh – Trưởng ban Tài Chính Tổng LĐLĐVN – cho biết, buổi tọa đàm đã được nghe tất cả 12 ý kiến tham luận thay mặt cho các cơ quan Bộ, Ban ngành quản lý nhà nước; chính quyền địa phương; các ý kiến của các DN; tổ chức CĐ; NLĐ. Các ý kiến  phát biểu quản lý nhà nước đều thống nhất cao sự cần thiết tổ chức CĐ xây dựng đề án này; đây là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Theo đó, đại diện chính quyền phát biểu đã bày tỏ đồng tình cao và tạo mọi điều kiện để CĐ thực hiện (cấp đất sạch, đầu tư cơ sở hạ tầng). Ông Phan Anh cho biết, qua khảo sát trao đổi với các địa phương, đã có cam kết bằng văn bản nếu CĐ đầu tư thì chính quyền địa phương sẽ bỏ ra 1 phần kinh phí để cùng Tổng, xã hội xây dựng thiết chế CĐ. Cũng Qua trao đổi đại diện các DN, các DN cho rằng, xây dựng các thiết chế là cần thiết thiết thực và đã có cam kết, thống nhất đồng hành cùng tổ chức CĐ để chăm lo tốt cho NLĐ trong thời gian tới. Bên cạnh đó, các cấp CĐ, NLĐ đều  mong muốn thực hiện các thiết chế này.
“Theo sự phân công của ĐCT Tổng LĐLĐVN, trong xây dựng đề án, đồng chí Bùi Văn Cường làm chủ đề án, tôi là người trực tiếp xây dựng đề án. Tới đây, tôi xin tiếp thu các ý kiến đóng góp và tiếp thụ, hoàn thiện dự án để tham mưu ĐCT Tổng LĐ trong quá trình thực hiện tổ chức thực hiện sẽ có các bước, quy định để đề án đi vào thực tiễn”-ông Phan Anh nói.

Ý kiến đại biểu về thiết chế cho người lao động

* Ông Hà Đông – Trưởng ban Tuyên giáo LĐLĐ TP. Hà Nội:Phải có hành lang pháp lý, xã hội hóa, tạo điều kiện để DN tham gia
Tôi cho rằng chủ trương của Chính phủ, của Tổng LĐLĐVN về xây dựng thiết chế cho NLĐ là rất đúng, rất cần thiết. Vấn đề là làm thế nào để thực hiện tốt việc xây dựng và duy trì, phát huy hiệu quả hoạt động các thiết chế phục vụ NLĐ mà thôi.
Theo tôi, điều quan trọng là khi quy hoạch các KCN, cụm CN, các tỉnh, TP phải quy hoạch cơ sở hạ tầng, quỹ đất cho các thiết chế phục vụ NLĐ. Các tỉnh, TP cần ưu đãi quỹ đất cho DN xây dựng các thiết chế phục vụ NLĐ. Vấn đề quan trọng, khó nhất là sau khi xây dựng các thiết chế thì làm sao để vận hành, duy trì, phát huy hiệu quả các hoạt động của nó. CNLĐ là chủ thể nhưng thu nhập thấp làm sao đóng góp cho các thiết chế vận hành?
Tôi nghĩ rằng, giải pháp cho vấn dề này là phải xã hội hóa, phải có hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho DN tham gia; các cấp CĐ phải thể hiện được vai trò của mình trong tổ chức các hoạt động trong các thiết chế này. Thực trạng 28 điểm sinh hoạt văn hóa thuộc phục vụ CNLĐ ở TP. Hà Nội cho thấy, điểm sinh hoạt văn hóa nào đặt trong DN, được DN đầu tư, quan tâm thì những điểm đó hoạt động tốt, hiệu quả cao, giúp nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho NLĐ.
* Ông Trần Ngọc Bắc – Trưởng ban Văn phòng CĐ Vietcombank: Phải huy động tổng lực cho việc xây dựng các thiết chế phục vụ NLĐ
Chủ trương về xây dựng thiết chế cho NLĐ của Chính phủ, Tổng LĐLĐVN là rất đúng. Để thực hiện chủ trương đó thì phải huy động su mạnh tổng lực, phải xã hội hóa; ngay cả thu nhập CNLĐ còn thấp thì các tổ chức CĐ cần có cách thức nào đó để họ tham gia được vào các hoạt động trong các thiết chế. Nhà nước cần phải dành quỹ đất và kêu gọi các DN tham gia; chẳng hạn như ngân hàng thì hỗ trợ về vốn, cho vay với lãi suất ưu đãi. Khi xây dựng được các thiết chế rồi thì tổ chức hoạt động, làm sao duy trì được hoạt động để các thiết chế mang lại hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu của NLĐ. Đây là vấn đề đòi hỏi cách làm năng động, sáng tạo từ các cấp CĐ.
* Bà Hồ Thị Kim Ngân – Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Hưng Yên:
Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá xây dựng các thiết chế phục vụ NLĐ
Hiện nay các KCN, KCX, cụm CN đang rất thiếu điều kiện phục vụ sinh hoạt cho CNLĐ và con em họ, như nhà ở, nơi sinh hoạt VHVN, TDTT, nhà trẻ… Bởi vậy, chủ trương về xây dựng thiết chế cho NLĐ của Chính phủ, Tổng LĐLĐVN là rất đúng. Ngoài chủ trương của Chính phủ, Tổng LĐLĐVN, sự ủng hộ của chính quyền tỉnh, TP trong việc cấp đất và hỗ trợ kêu gọi đầu tư là rất quan trọng. Các KCN, KCX phải được cấp đất sạch. Chính phủ, Bộ Tài chính cần xem xét cấp kinh phí kịp thời và đẩy mạnh thu hút nguồn đầu tư từ xã hội hóa để sớm thiết kế, xây dựng các thiết chế phục vụ NLĐ. Đặc biệt, cần đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá chủ trương nói trên của Chính phủ, Tổng LĐLĐVN đến các DN để có sự đầu tư hỗ trợ xây dựng các siêu thị giá rẻ, hàng tiêu dùng giá ưu đãi… cho NLĐ.
* Bà Nguyễn Thị Thúy Hà – Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Vĩnh Phú
c: Các thiết chế phải được xây dựng hợp lý mới vận hành hiệu quả
Về xây dựng các thiết chế phục vụ NLĐ, cần có cơ chế cho CNLĐ vay để mua nhà (như gói 3.000 tỉ đồng). Thiết kế nhà ở cho NLĐ ở các tỉnh phải rộng hơn ở các TP lớn (40 đến 70 mét vuông/căn). Đối với nhà trẻ cho con CN, cần phối hợp với Bộ GDĐT có đề xuất cơ chế chính sách gửi trẻ theo ca của NLĐ. Các nhà trẻ tư thục nhận con CNLĐ từ trên 12 tháng tuổi theo ca của bố mẹ (kể cả ca đêm); bó mẹ được đăng ký linh hoạt trong gửi và đón con theo 3 ca làm việc ở nhà máy.
Đối với phòng khám đa khoa KCN, cần phối hợp với Bộ Y tế đề xuất cơ chế chính sách hoạt động của hòng khám phù hợp với thời gian làm việc của NLĐ và nhu cầu của DN. Các siêu thị mini thì vận hành theo cơ chế thị trường. Các nhà văn hóa CN gắn với trụ sở CĐ KCN và trung tâm tư vấn pháp luật CĐ, đảm bảo hiệu quả; không tăng biên chế và bộ máy CĐ; có thể lấy thu bù chi để hoạt động. Không cần làm nhà văn hóa CN quá lớn, chỉ cần khoảng 15 – 20 tỉ đồng, ở đó có sân bóng đá mini, nhà thể hình, nhà đa năng… là phù hợp.
Nhóm Phóng viên Báo Lao Động

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Comment moderation is enabled. Your comment may take some time to appear.